Niềm tin hàng Việt: Sợi dây gắn kết giấc mơ-hiện thực

Sự kiện VinFast ra mắt thành phẩm xe hơi tại Paris (Pháp) vừa qua và Bphone3 quay trở lại đối tượng mới đây một lần nữa thắp sáng hy vọng xây dựng thương hiệu hàng Việt của các doanh nghiệp trong nước.

Năm 2015, khi Bphone ra mắt lần đi đầu sản phẩm điện thoại Made in Vietnam, công chúng đang hào hứng mong chờ Việt Nam sẽ có một đối thủ xứng tầm với iPhone và Samsung ngay trên sân nhà. Nhưng cho đến tận bây giờ, ước mơ phát triển một thương hiệu Việt trong lĩnh vực công nghệ dường như vẫn chưa trở thành hiện thực. Liệu VinFast và Bphone lần này có thành đạt trong việc chinh phục niềm tin của người tiêu dùng?

Niềm tin vào “Made in Vietnam”

Từ khi mở cửa nền kinh tế, brand Việt Nam luôn gắn với các thành phẩm nông nghiệp như gạo, cà phê, hạt điều, chè… Tuy vậy, có một thực tế là từ năm 2009 cho đến nay, nhóm mặt hàng điện tử, điện thoại di động luôn dẫn đầu về kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam nhưng lại ko hấp dẫn sự chú ý người dùng.

Một cuộc khảo sát tiến hành tại 50 quốc gia về chỉ số xuất xứ thành phẩmgồm có cả Việt Nam, của Statista năm 2017 với 43.034 người tiêu dùng xã hội cho thấy, sản phẩm “Made in Vietnam” được đánh giá cao tại nhiều quốc gia(*), có 7% số người được hỏi cho rằng hàng Việt Nam có chất lượng cao. Chẳng hạn như người tiêu sử dụng Nhật Bản cho rằng hàng hóa của Việt Nam có chất lượng đứng thứ 27/50 quốc gia khảo sát, người Hà Lan review hàng Việt đứng thứ 23/50, người Ảrập đánh giá hàng Việt ở vị trí 20/50, người Ecuador thậm chí coi Việt Nam là món hàng tốt thứ 10 trong số 50 nước. Đáng buồn là chính người Việt lại chưa tin tưởng vào chất lượng sản phẩm của nước mình khi tự review món hàng nội địa ở vị trí thứ 42 trong bảng xếp hạng 50 quốc gia.

Những số lượng này cho thấy, để các thương hiệu Việt sự phát triển thì điều kiện tiên quyết là phải chinh phục được niềm tin của người tiêu dùng nội địa. Chỉ khi nào chính người Việt Nam cảm thấy tin tưởng, tự hào về món hàng của nước mình thì mới tạo ra sự lan tỏa niềm tin cho người tiêu dùng ở các khu vực không giống. Hiện tại, hàng Việt Nam được người tiêu sử dụng trái đất review ở vị trí thứ 46/50 quốc gia tham gia khảo sát, một vị trí khá thấp và đồng nghĩa với nhận định: hàng Việt có chất lượng thấp và giá phải chăng.

Hàng Việt có nhất thiết phải sản xuất tại Việt Nam?

Khi Bphone hay VinFast được giới thiệu đến công chúng, rất nhiều ý kiến đang cho rằng các thành phẩm của những brand này không thể coi là xuất xứ Việt Nam (Made in Vietnam) vì phần lớn nguyên vật liệu và công nghệ đều được cung cấp bởi các đối tác nước ngoài.

Từ góc độ kinh tế vĩ mô, chắc chắn một doanh nghiệp nếu tiến hành hầu hết các công đoạn sản xuất thành phẩm ở trong nước sẽ tạo ra nhiều công ăn việc làm và đóng góp nhiều giá trị tăng trưởng cho đất nước. Tuy nhiên, nếu đứng từ góc độ mua bán của doanh nghiệp, thì tối ưu hóa hành trình sản xuất là một yêu cầu tất yếu. Việc find các đối tác, nhà cung cấp trên trái đất là để giúp doanh nghiệp giảm chi phítăng trưởng có kết quả mua bánvì vậy, việc “nội địa hóa” dù chỉ một vài khâu trong tiến trình sản xuất cũng luôn tốt hơn đối với việc nhập khẩu sản phẩm nguyên chiếc. Thêm vào đó, ngày nay brand luôn chiếm tỷ trọng giá trị tăng trưởng cao nhất trong thành phẩm. Do đó, nếu đủ sức xây dựng những brand thuần Việt, thì đó tất nhiên là một tín hiệu tích cực đối với nền kinh tế nước nhà. Cho dù ko làm chủ toàn bộ công nghệ sản xuất thành phẩm, nhưng các brand Việt cũng sẽ tạo ra nhiều công ăn việc sử dụng ở các công đoạn tạo dựng, lắp ráp, phân phối thành phẩm.

brand Nike làm mưa làm gió trên đối tượng quần áo và công cụ thể thao toàn cầu từ khi ra đời cho đến nay vẫn ko sở hữu một nhà máy nào trên toàn xã hội. Toàn bộ các sản phẩm của Nike đều được đặt hàng gia công tại các nhà máy ở khắp các châu lục. Nhiệm vụ của brand này, là xây dựng và phân phối sản phẩm. Tương tự, chiếc điện thoại iPhone, ngoại trừ khâu thiết kế thành phẩm và công cụ được thực hiện bởi Apple thì phần lớn quá trình sản xuất đều được tiến hành bên ngoài nước Mỹ. mục lục các nhà sản xuất và cung cấp du nhập vào chuỗi cung ứng iPhone bao gồm các công ty đến từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đức, Mỹ…

Câu hỏi đặt ra là lý do chúng ta dễ dàng chấp nhận và coi iPhone tốt Nike là thương hiệu của Mỹ dù phần to các khâu sản xuất diễn ra ở nước ngoài, trong khi so với các sản phẩm brand Việt nếu áp dụng mô ảnh tương tự thì lại ko được ủng hộ? Người tiêu dùng Việt Nam chưa thoát khỏi tâm lý sính ngoại hay chưa đủ niềm tin đối với thành phẩm nội?

Cho dù câu trả lời là vế nào thì đối tuợng là “thượng đế”. Do đó, việc của các doanh nghiệp Việt Nam là luôn nỗ lực xây dựng những thành phẩm tốt nhất cho người sử dụng để củng cố niềm tin vào chất lượng hàng Việt. Khi vừa mới tin tưởng hàng nội địa, dần dần tâm lý sính ngoại sẽ được thay thế bởi niềm tự hào hàng Việt.

Chỉ khi nào chính người Việt Nam cảm thấy tin tưởng, tự hào về sản phẩm của nước mình thì mới xây dựng sự lan tỏa niềm tin cho người tiêu dùng ở các khu vực khác.

Khi bỏ tiền ra mua sản phẩm, cái mà khách hàng luôn mong muốn, đó là giá trị sử dụng của sản phẩm. Các doanh nghiệp vì vậy cần đặc biệt quan tâm khâu nghiên cứu nhu cầu phân khúc để thiết kế thành phẩm hoàn hảo với mức giá hợp lý. Một điều cần kíp không kém, là minh bạch hóa các thông tin liên quan đến đầu vào cho thành phẩmsản phẩm của Bphone từng bị nghi ngờ khi mang quốc tịch Việt Nam bởi cái giấy khai sinh “Made in Vietnam” không quá đủ để thuyết phục khi mà doanh nghiệp đã mua hơn 800 linh kiện điện tử từ 82 nhà cung cấp không giống nhau trên thế gớivì vậy, các nhà sản xuất cần sử dụng rõ các thông tin “Made in” (Sản xuất tại), “Assembled in” (Lắp ráp tại), “Designed by” (Thiết kế bởi), “Product of” (Sản phẩm của). Việc che giấu tốt ghi sai lệch thông tin về xuất xứ sản phẩm sẽ làm người sử dụng mất niềm tin vào thành phẩm và quay lưng lại với thương hiệu.

Ngoài ra, cần chú trọng hệ thống phân phối để đảm bảo nang lực tiếp cận sản phẩm của người dùng. Đây cũng là thế mạnh của các doanh nghiệp nội địa trên sân nhà.

Giấc mơ xây dựng thương hiệu Việt xa hay gần, điều đó dựa vào rất nhiều vào cách mà các doanh nghiệp xây dựng và củng cố niềm tin ở người tiêu sử dụng về hàng hóa Made in Vietnam.

* Nguồn: Thời báo Kinh tế Hồ Chí Minh

Leave a Reply

avatar
  Subscribe  
Notify of